Tiếp nối loạt bài xung quanh chủ đề nhạc sến, PV trò chuyện với nhạc sĩ
Thanh Sơn- tác giả 'Nỗi buồn hoa phượng' cùng nhiều bài hát nổi tiếng
trong dòng nhạc trữ tình quê hương. Thanh Sơn sinh 1938 tại Sóc Trăng,
nguyên biên tập viên Trung tâm Băng nhạc Rạng Đông. Ông nghỉ hưu 5 năm
nay.
Âm nhạc của ông được gọi là nhạc vàng?
Không, trong này không gọi là nhạc vàng, nhạc sến gì hết. Chữ nhạc vàng,
nhạc sến xuất hiện sau 1975. Trước đó tụi tôi trong Sài Gòn gọi là nhạc
tình cảm, bây giờ gọi là nhạc trữ tình đấy.
“Sến” xuất phát từ chữ Mari Sến- là cô gái gánh nước thuê, làm mướn
trước 1975. Một số nhạc sĩ Sài Gòn ghép vào cho nhạc cũ của Sài Gòn với ý
miệt thị. Trước chúng tôi hơi bực mình vì chuyện đó. Sau này rất hãnh
diện. Chúng tôi là tác giả những bài nhạc đó. Hỏi tám mươi mấy triệu dân
Việt Nam thích nhạc nào? Nghe nói dân Hà Nội sau này cũng thích loại
nhạc đó. Loại nhạc đó có tội tình gì đâu mà bảo nó sến?
Những năm 1960, ở Sài Gòn có những đĩa hát đóng mác “nhạc vàng”, thực chất là thế nào thưa ông?
Tôi cũng không biết. Nhưng nhạc vàng nghĩa là cái hiệu “nhạc vàng” chứ
không phải chỉ một dòng nhạc. Đúng ra âm nhạc đó xuất phát từ miền Bắc.
Chính người Bắc di cư 1954 đem vào. Chứ Sài Gòn lúc đó chỉ có một số
người nhà giàu mới học nhạc, học piano thôi, ít sáng tác lắm. Lúc đó,
chỉ Hà Nội mới có phòng trà, có ban nhạc. Người Sài Gòn gọi âm nhạc
người Bắc đưa vào là âm nhạc cải cách. Thấy nhạc đó hay quá, dân Sài Gòn
mới bắt đầu sáng tác, chơi nhạc. Tân nhạc phát triển mạnh lên.
Và người Sài Gòn đã làm ra một dòng nhạc rất đặc trưng cho tâm hồn Nam Bộ?
Người Nam nhiễm cải lương 80-90%. Như mấy bài của tôi ảnh hưởng cải
lương rất nhiều. Thành thử nghe qua có chất ngũ cung ở trong. Nhạc Sài
Gòn mấy người nói là ủy mị, não lòng này nọ. Hổng phải, do ảnh hưởng cải
lương. Trong Nam hay bị nói nhạc sến. Chứ nói về xứ Huế, miền Trung lại
không bị coi là nhạc sến. Mà chính mấy bài đó sến luôn (cười)
Ông có bao giờ thử sáng tác khác mình đi, không ngũ cung, không bolero?
Có chứ. Tôi viết 1-2 bài, cho người ta biết là tôi cũng biết viết. Còn
nhạc Tây phương 7 nốt mình sáng tác dễ quá. Cái khó nhất là ngũ cung.
Hiện giờ ngoài Bắc tôi phục nhất ông Phó Đức Phương, ngũ cung hay lắm.
Trong Nam chỉ có ba người: ông Bắc Sơn, ông Vũ Đức Sao Biển với tôi sáng
tác nhạc ngũ cung nhiều thôi. Nhiều nhạc sĩ trong Nam muốn sáng tác
nhạc ngũ cung, nhưng do không nghiên cứu, thành thử không biết viết.
Còn ông dùng ngũ cung một cách tự nhiên?
Tôi là người miền Nam rặt. Mấy mươi năm về trước, tôi thân với mấy anh
chị bên cải lương. Đoàn cải lương đi tôi đi theo coi. Cải lương nhiễm
vào máu tôi rồi. Một bài cải lương tôi lấy ra một câu hai câu, tự phát
triển thêm. Tôi cũng rất thích chầu văn, ca trù, nhất là quan họ. Sau
1975, tôi mới nghe nhiều qua băng đĩa. Bài Quê hương ba miền, tôi làm
đoạn đầu là Bắc, ở giữa là Trung, đoạn thứ ba là nhạc trong Nam.
Giai đoạn nhạc trữ tình bolero thoái trào, cuộc sống của ông có khó khăn gì không?
Không. Tôi chuyển qua nhạc quê hương liền, tức là ảnh hưởng dân ca Nam Bộ.
Thực ra là chỉ khác về lời, chứ tinh thần âm nhạc vẫn thế?
Vẫn thế thôi. Lời khác, giai điệu khác đi, nhưng cũng xuất phát từ
bolero. Quanh đi quẩn lại cũng vậy. Bolero là một nhịp trong âm nhạc,
chứ nó có tội tình gì đâu.
Nhạc sĩ từng nói còn sống còn sáng tác, rất tiếc là tác quyền bây giờ
không cao như những năm 1960, khi ông viết nhạc mà mua được nhà được xe?
Không, từ khi có hội bảo vệ tác quyền đỡ lắm. Cuộc sống khá hơn. Khi chưa có hội tác quyền, tháng tôi thu nhập 5 triệu, giờ hơn.
Ít khi nghe nhạc sĩ nói hài lòng về tiền tác quyền như ông?
Những người không hài lòng họ sáng tác rất ít, hoặc bài của họ không được sử dụng nhiều.
Chứng tỏ dòng nhạc trữ tình quê hương vẫn được công chúng ưa chuộng?
Đúng rồi. Sáng tác là một chuyện. Người nghe có bằng lòng không là một
chuyện. Trong Nam, người ta giải trí bằng loại nhạc mà mình gọi là nhạc
vàng nó quen rồi, nghe mấy dòng nhạc lạ quá không thích.
.
Showing posts with label sến. Show all posts
Showing posts with label sến. Show all posts
Tuesday, June 12, 2012
Không có nhạc vàng, nhạc sến
http://www.tienphong.vn/van-nghe/510615/Khong-co-nhac-vang-nhac-sen.html
Âm nhạc của ông được gọi là nhạc vàng?
Phỏng vấn Nhạc sĩ Thanh Sơn:
Không có nhạc vàng, nhạc sến
Tiếp nối loạt bài xung quanh chủ đề nhạc sến, PV
trò chuyện với nhạc sĩ Thanh Sơn- tác giả 'Nỗi buồn hoa phượng' cùng
nhiều bài hát nổi tiếng trong dòng nhạc trữ tình quê hương. Thanh Sơn
sinh 1938 tại Sóc Trăng, nguyên biên tập viên Trung tâm Băng nhạc Rạng
Đông. Ông nghỉ hưu 5 năm nay.
| Nhạc sĩ Thanh Sơn và vợ thời trẻ. |
Âm nhạc của ông được gọi là nhạc vàng?
Không, trong này không gọi là nhạc vàng, nhạc sến gì
hết. Chữ nhạc vàng, nhạc sến xuất hiện sau 1975. Trước đó tụi tôi trong
Sài Gòn gọi là nhạc tình cảm, bây giờ gọi là nhạc trữ tình đấy.
“Sến” xuất phát từ chữ Mari Sến- là cô gái gánh nước
thuê, làm mướn trước 1975. Một số nhạc sĩ Sài Gòn ghép vào cho nhạc cũ
của Sài Gòn với ý miệt thị. Trước chúng tôi hơi bực mình vì chuyện đó.
Sau này rất hãnh diện. Chúng tôi là tác giả những bài nhạc đó. Hỏi tám
mươi mấy triệu dân Việt Nam thích nhạc nào? Nghe nói dân Hà Nội sau này
cũng thích loại nhạc đó. Loại nhạc đó có tội tình gì đâu mà bảo nó sến?
Những năm 1960, ở Sài Gòn có những đĩa hát đóng mác “nhạc vàng”, thực chất là thế nào thưa ông?
Tôi cũng không biết. Nhưng nhạc vàng nghĩa là cái hiệu
“nhạc vàng” chứ không phải chỉ một dòng nhạc. Đúng ra âm nhạc đó xuất
phát từ miền Bắc. Chính người Bắc di cư 1954 đem vào. Chứ Sài Gòn lúc đó
chỉ có một số người nhà giàu mới học nhạc, học piano thôi, ít sáng tác
lắm. Lúc đó, chỉ Hà Nội mới có phòng trà, có ban nhạc. Người Sài Gòn gọi
âm nhạc người Bắc đưa vào là âm nhạc cải cách. Thấy nhạc đó hay quá,
dân Sài Gòn mới bắt đầu sáng tác, chơi nhạc. Tân nhạc phát triển mạnh
lên.
Và người Sài Gòn đã làm ra một dòng nhạc rất đặc trưng cho tâm hồn Nam Bộ?
Người Nam nhiễm cải lương 80-90%. Như mấy bài của tôi
ảnh hưởng cải lương rất nhiều. Thành thử nghe qua có chất ngũ cung ở
trong. Nhạc Sài Gòn mấy người nói là ủy mị, não lòng này nọ. Hổng phải,
do ảnh hưởng cải lương. Trong Nam hay bị nói nhạc sến. Chứ nói về xứ
Huế, miền Trung lại không bị coi là nhạc sến. Mà chính mấy bài đó sến
luôn (cười)
Ông có bao giờ thử sáng tác khác mình đi, không ngũ cung, không bolero?
Có chứ. Tôi viết 1-2 bài, cho người ta biết là tôi cũng
biết viết. Còn nhạc Tây phương 7 nốt mình sáng tác dễ quá. Cái khó nhất
là ngũ cung. Hiện giờ ngoài Bắc tôi phục nhất ông Phó Đức Phương, ngũ
cung hay lắm. Trong Nam chỉ có ba người: ông Bắc Sơn, ông Vũ Đức Sao
Biển với tôi sáng tác nhạc ngũ cung nhiều thôi. Nhiều nhạc sĩ trong Nam
muốn sáng tác nhạc ngũ cung, nhưng do không nghiên cứu, thành thử không
biết viết.
Còn ông dùng ngũ cung một cách tự nhiên?
Tôi là người miền Nam rặt. Mấy mươi năm về trước, tôi
thân với mấy anh chị bên cải lương. Đoàn cải lương đi tôi đi theo coi.
Cải lương nhiễm vào máu tôi rồi. Một bài cải lương tôi lấy ra một câu
hai câu, tự phát triển thêm. Tôi cũng rất thích chầu văn, ca trù, nhất
là quan họ. Sau 1975, tôi mới nghe nhiều qua băng đĩa. Bài Quê hương ba miền, tôi làm đoạn đầu là Bắc, ở giữa là Trung, đoạn thứ ba là nhạc trong Nam.
Giai đoạn nhạc trữ tình bolero thoái trào, cuộc sống của ông có khó khăn gì không?
Không. Tôi chuyển qua nhạc quê hương liền, tức là ảnh hưởng dân ca Nam Bộ.
Thực ra là chỉ khác về lời, chứ tinh thần âm nhạc vẫn thế?
Vẫn thế thôi. Lời khác, giai điệu khác đi, nhưng cũng
xuất phát từ bolero. Quanh đi quẩn lại cũng vậy. Bolero là một nhịp
trong âm nhạc, chứ nó có tội tình gì đâu.
Nhạc sĩ từng nói còn sống còn sáng tác, rất tiếc là
tác quyền bây giờ không cao như những năm 1960, khi ông viết nhạc mà
mua được nhà được xe?
Không, từ khi có hội bảo vệ tác quyền đỡ lắm. Cuộc sống khá hơn. Khi chưa có hội tác quyền, tháng tôi thu nhập 5 triệu, giờ hơn.
Ít khi nghe nhạc sĩ nói hài lòng về tiền tác quyền như ông?
Những người không hài lòng họ sáng tác rất ít, hoặc bài của họ không được sử dụng nhiều.
Chứng tỏ dòng nhạc trữ tình quê hương vẫn được công chúng ưa chuộng?
Đúng rồi. Sáng tác là một chuyện. Người nghe có bằng
lòng không là một chuyện. Trong Nam, người ta giải trí bằng loại nhạc mà
mình gọi là nhạc vàng nó quen rồi, nghe mấy dòng nhạc lạ quá không
thích.
Nguyễn Mạnh Hà thực hiện
'Sến' đến từ đâu?
http://www.tienphong.vn/van-nghe/510502/Sen-den-tu-dau.html
| Cây đàn sến. |
Thương hiệu nhạc vàng phổ biến ở miền Nam Việt Nam cuối thập kỷ 1960 và
thịnh hành đến 1975. Thời gian đó, Phó Quốc Lân, nhạc sĩ gốc Hà Nội
thành lập ban Nhạc Vàng thuộc Đài Truyền hình Sài Gòn.
Một số hãng phát hành băng đĩa ở Sài Gòn thời bấy giờ cũng cho ra hàng loạt sản phẩm gắn mác nhạc vàng. Nhạc vàng khi đó chỉ những bản tình ca theo thẩm mỹ đương thời, ngoài đề tài tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương, đương nhiên lồng vào những nội dung mang tính chính trị.
Vài tác giả tiêu biểu của nhạc vàng thời kỳ này: Trần Thiện Thanh, Anh Bằng, Nguyễn Văn Đông… Và cũng như bất kỳ dòng nhạc nào, có những bài nhạc vàng còn lại với thời gian, còn đọng lại trong người nghe hôm nay.
Trước đó, ở miền Bắc, khái niệm nhạc vàng được tiếp cận từ một nhãn quan khác. Theo Jason Gibbs - người Mỹ chuyên nghiên cứu âm nhạc VN, "nhạc vàng" nghĩa là "âm nhạc màu vàng" xuất xứ từ "hoangse yinyue"- một thuật ngữ trí thức cánh tả Trung Hoa dùng để gọi những tình khúc Thượng Hải thập kỷ 1930. Sau chiến thắng 1949, loại nhạc này đã bị loại như một tàn dư của tư sản Tây phương.
Các nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam nhắc đến nhạc vàng theo quan điểm phê phán vào đầu những năm 1950. Đối tượng phê phán là một số tác giả sau này được xếp vào thời kỳ tiền chiến, kể cả Văn Cao, Phạm Duy... Ngày nay, chắc chỉ những bản tình ca thực sự não nề, với cách hát lả lướt đặc trưng của Duy Khánh, Chế Linh, Thanh Tuyền… mới được gọi là nhạc vàng.
Không mấy ai tìm cách định nghĩa nhạc sến. Cách gọi này mang tính chủ quan nhiều hơn, trong đó sến có thể vẫn chỉ là tính từ. Nó thể hiện sự cảm nhận, và nhiều khi một thái độ đối với âm nhạc hơn là gọi tên một dòng nhạc.
Nếu ai đó bị kêu là sến, có thể họ sẽ có phản ứng tiêu cực. Ca sĩ Hương Lan, mấy năm trước phát biểu trên báo: "Tôi không biết những người hay dùng từ sến để chê một bài nào đó, họ có hiểu sến là gì hay không; hay cái gì không thích thì đều cho là sến. Cũng như từ cải lương vậy, đó là một loại hình nghệ thuật, sao mọi người có thể tùy tiện sử dụng mỗi khi muốn chê cái gì đó (sao sến quá, sao cải lương quá). Tôi xem đó là sự chọc ghẹo, coi thường và nhục mạ rất tệ hại”.
Nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo cho rằng, từ "sến" bắt nguồn từ "sen" trong "con sen"- từ gốc Pháp vào những năm 1930-40 dùng để chỉ cô giúp việc ở miền Bắc. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Phan lại cắt nghĩa "sến" nguyên là "Maria Sến"- đọc theo lối Việt hóa tên nữ diễn viên người Áo Maria Schell.
Cô Schell trở thành hiện tượng ở các đô thị miền Nam đầu những năm 1960, sau khi thủ vai một vũ nữ hộp đêm hát múa một cách khiêu khích, bốc lửa trong phim Anh em nhà Karamazov - Hollywood dựng năm 1958 theo tác phẩm của đại văn hào Nga Dostoievsky.
Hoàng Phủ Ngọc Phan kể: "Lúc này bắt đầu xuất hiện những fan của Maria Schell. Trẻ em đường phố tập tành nhún nhảy bài Mambo Italiano. Các cô gái đợt sóng mới lăng-xê kiểu tóc xõa xượi, mắt xanh Bel, phô trương thân hình... Trên sân khấu phòng trà, mọc lên những ngôi sao ca nhạc gào thét, quằn quại như con thanh xà, bạch xà.
Từ Mari Sến thoạt tiên được dùng như một biến âm của Maria Schell để chỉ dạng biến thái này trong sinh hoạt của giới trẻ". Đáng chú ý rằng bài Mambo Italiano mà cô Sến Tây trình diễn không liên quan gì đến tốc độ của nhạc sến Ta. Cứ cho rằng "sến" có nguồn gốc từ phiên âm tiếng nước ngoài, nhưng chắc hẳn phải có một sự tương hợp với từ sẵn có trong nước thì người ta mới đọc Schell thành Sến chứ không phải thành Seo hay Cheo gì đó.
Hai cây đàn chủ lực trong trình diễn âm nhạc tài tử ở miền Tây Nam Bộ ngày nay là ghi ta phím lõm và đàn sến. Trong đó, đàn sến có thể coi là "người phát ngôn" lâu đời và chủ chốt của dòng nhạc tài tử. Nó có mặt cả trong dàn nhạc tuồng.
Trong khi ghi ta phím lõm mới chỉ được khoét phím và có mặt trong dàn nhạc tài tử cải lương cuối những năm 1930, theo Lê Đình Bích: "Đàn sến ba dây nguyên thủy có nguồn gốc từ Tần Cầm (cây đàn của đế chế Tần Thủy Hoàng, 221 - 207 TCN).
Tiếng Hoa phát âm Tần Cầm là Xỉn Xỉn (Qin Qin), vì vậy âm sến là biến âm của tên cây đàn do người Hoa mang theo trong quá trình nhập cư vào miền Tây Nam Bộ. Tần Cầm còn được gọi là Mai Hoa Cầm vì bầu đàn hình hoa mai sáu cánh, cần đàn có 12 phím, trong khi đàn sến 2 dây, cần đàn có 14 phím".
Rất có thể thuở xưa, khi nghe một bản đàn tài tử cải lương chơi bằng đàn sến thật hay, người nghe đã thốt lên: "Chơi thế này mới gọi là sến!". Và sến đã trở thành tính từ đồng nghĩa với mùi mẫn, tình cảm, đi vào lòng người.
Một số hãng phát hành băng đĩa ở Sài Gòn thời bấy giờ cũng cho ra hàng loạt sản phẩm gắn mác nhạc vàng. Nhạc vàng khi đó chỉ những bản tình ca theo thẩm mỹ đương thời, ngoài đề tài tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương, đương nhiên lồng vào những nội dung mang tính chính trị.
Vài tác giả tiêu biểu của nhạc vàng thời kỳ này: Trần Thiện Thanh, Anh Bằng, Nguyễn Văn Đông… Và cũng như bất kỳ dòng nhạc nào, có những bài nhạc vàng còn lại với thời gian, còn đọng lại trong người nghe hôm nay.
Trước đó, ở miền Bắc, khái niệm nhạc vàng được tiếp cận từ một nhãn quan khác. Theo Jason Gibbs - người Mỹ chuyên nghiên cứu âm nhạc VN, "nhạc vàng" nghĩa là "âm nhạc màu vàng" xuất xứ từ "hoangse yinyue"- một thuật ngữ trí thức cánh tả Trung Hoa dùng để gọi những tình khúc Thượng Hải thập kỷ 1930. Sau chiến thắng 1949, loại nhạc này đã bị loại như một tàn dư của tư sản Tây phương.
Các nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam nhắc đến nhạc vàng theo quan điểm phê phán vào đầu những năm 1950. Đối tượng phê phán là một số tác giả sau này được xếp vào thời kỳ tiền chiến, kể cả Văn Cao, Phạm Duy... Ngày nay, chắc chỉ những bản tình ca thực sự não nề, với cách hát lả lướt đặc trưng của Duy Khánh, Chế Linh, Thanh Tuyền… mới được gọi là nhạc vàng.
Không mấy ai tìm cách định nghĩa nhạc sến. Cách gọi này mang tính chủ quan nhiều hơn, trong đó sến có thể vẫn chỉ là tính từ. Nó thể hiện sự cảm nhận, và nhiều khi một thái độ đối với âm nhạc hơn là gọi tên một dòng nhạc.
Nếu ai đó bị kêu là sến, có thể họ sẽ có phản ứng tiêu cực. Ca sĩ Hương Lan, mấy năm trước phát biểu trên báo: "Tôi không biết những người hay dùng từ sến để chê một bài nào đó, họ có hiểu sến là gì hay không; hay cái gì không thích thì đều cho là sến. Cũng như từ cải lương vậy, đó là một loại hình nghệ thuật, sao mọi người có thể tùy tiện sử dụng mỗi khi muốn chê cái gì đó (sao sến quá, sao cải lương quá). Tôi xem đó là sự chọc ghẹo, coi thường và nhục mạ rất tệ hại”.
Nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo cho rằng, từ "sến" bắt nguồn từ "sen" trong "con sen"- từ gốc Pháp vào những năm 1930-40 dùng để chỉ cô giúp việc ở miền Bắc. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Phan lại cắt nghĩa "sến" nguyên là "Maria Sến"- đọc theo lối Việt hóa tên nữ diễn viên người Áo Maria Schell.
Cô Schell trở thành hiện tượng ở các đô thị miền Nam đầu những năm 1960, sau khi thủ vai một vũ nữ hộp đêm hát múa một cách khiêu khích, bốc lửa trong phim Anh em nhà Karamazov - Hollywood dựng năm 1958 theo tác phẩm của đại văn hào Nga Dostoievsky.
Hoàng Phủ Ngọc Phan kể: "Lúc này bắt đầu xuất hiện những fan của Maria Schell. Trẻ em đường phố tập tành nhún nhảy bài Mambo Italiano. Các cô gái đợt sóng mới lăng-xê kiểu tóc xõa xượi, mắt xanh Bel, phô trương thân hình... Trên sân khấu phòng trà, mọc lên những ngôi sao ca nhạc gào thét, quằn quại như con thanh xà, bạch xà.
Từ Mari Sến thoạt tiên được dùng như một biến âm của Maria Schell để chỉ dạng biến thái này trong sinh hoạt của giới trẻ". Đáng chú ý rằng bài Mambo Italiano mà cô Sến Tây trình diễn không liên quan gì đến tốc độ của nhạc sến Ta. Cứ cho rằng "sến" có nguồn gốc từ phiên âm tiếng nước ngoài, nhưng chắc hẳn phải có một sự tương hợp với từ sẵn có trong nước thì người ta mới đọc Schell thành Sến chứ không phải thành Seo hay Cheo gì đó.
Hai cây đàn chủ lực trong trình diễn âm nhạc tài tử ở miền Tây Nam Bộ ngày nay là ghi ta phím lõm và đàn sến. Trong đó, đàn sến có thể coi là "người phát ngôn" lâu đời và chủ chốt của dòng nhạc tài tử. Nó có mặt cả trong dàn nhạc tuồng.
Trong khi ghi ta phím lõm mới chỉ được khoét phím và có mặt trong dàn nhạc tài tử cải lương cuối những năm 1930, theo Lê Đình Bích: "Đàn sến ba dây nguyên thủy có nguồn gốc từ Tần Cầm (cây đàn của đế chế Tần Thủy Hoàng, 221 - 207 TCN).
Tiếng Hoa phát âm Tần Cầm là Xỉn Xỉn (Qin Qin), vì vậy âm sến là biến âm của tên cây đàn do người Hoa mang theo trong quá trình nhập cư vào miền Tây Nam Bộ. Tần Cầm còn được gọi là Mai Hoa Cầm vì bầu đàn hình hoa mai sáu cánh, cần đàn có 12 phím, trong khi đàn sến 2 dây, cần đàn có 14 phím".
Rất có thể thuở xưa, khi nghe một bản đàn tài tử cải lương chơi bằng đàn sến thật hay, người nghe đã thốt lên: "Chơi thế này mới gọi là sến!". Và sến đã trở thành tính từ đồng nghĩa với mùi mẫn, tình cảm, đi vào lòng người.
.
Subscribe to:
Posts (Atom)