Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2012

NHẠC SĨ LỮ LIÊN & BAN AVT

http://cafevannghe.wordpress.com/





Không cần phải giới thiệu dài dòng, chắc chắn mọi người đều biết AVT là tên của một ban tam ca trào phúng đã đi vào lịch sử âm nhạc Việt Nam với tính chất châm biếm và hài hước, nhiều khi xen lẫn với một sự mỉa mai của nó.

AVT đã trở thành một tên tuổi thật gần gũi với mọi người bằng những nhạc phẩm lột tả được hết mọi khía cạnh của cuộc sống hằng ngàytrong nhiều hoàn cảnh khác biệt của xã hội. Những lời ca dí dỏm trong những nhạc phẩm do AVT trình bầy đã mang lại niềm vui cho mọi người từ suốt gần 50 năm qua đã đóng góp khá nhiều vào kho tàng văn hóa dân gian cũng như đã trở thành một lọai văn chương truyền khẩu rất phổ thông.


Nhắc đến AVT, chắc chắn phải nhắc đến người được coi là linh hồn của ban tam ca này là nhạc sĩ lão thành Lữ Liên, vào năm 2008 này đã được 91 tuổi. Ông hiện cư ngụ tại Orange County trong một căn mobile home mà người viết đã có dịp tiếp xúc gần đây. Ngoài ra, trước đó thỉnh thoảng tôi vẫn có dịp gặp gỡ ông trong những dịp thu ông hình video cho trung tâm Asia cách đây khoảng 10 năm để nghe ông kể về nguồn gốc và sự hình thành của ban tam ca AVT.

Không những thế cách đây 15 năm, ông đã tự tay soạn một bài viết về nội dung nói trên cho tôi làm tài liệu. Căn cứ vào những dữ kiện có được cũng như một số chi tiết góp nhặt được qua những lần gặp gỡ nhạc sĩ Lữ Liên, bài viết này mong sẽ cung cấp cho bạn đọc những điều xác thực về lịch sử ban tam ca AVT cùng với người được coi là linh hồn của nó là nhạc sĩ Lữ Liên.

Thêm vào đó, bài viết này cũng còn được dựa trên tài liệu của một số nhân vật có thẩm quyền khác đối với sự hình thành của ban tam ca trào phúng độc đáo này. Trung tá Phạm Hậu tức nhà thơ Nhất Tuấn là một người trong số này. Ông nguyên là giám đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh VNCH vào năm 1971 và là Tổng Giám Đốc Việt Tấn Xã vào năm 1974. Trước đó ông tùng là người một thời gian chỉ huy Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương tức tiền thân của của Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương là nơi xuất phát ra ban tam ca AVT và rất nhiều nghệ sĩ tên tuổi khác.

Ông cũng từng giữ một chức vụ cao của Đài Phát Thanh Quân Đội là nơi nhạc sĩ Lữ Liên vào năm 1957 sau khi được đồng hóa vào quân đội đã phục vụ trong ban biên tập, để rồi sau đó được biệt phái sang tiểu đoàn 1 Chiến Tranh Chính Trị để bổ xung vào ngành kịch nghệ sân khấu trong việc yểm trợ cho các binh sĩ khắp 4 vùng chiến thuật trước khi trở thành trưởng ban AVT.

Trong thời gian là diễn viên kịch nghệ trong ban kịch của Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương, ông vẫn chú tâm nghiên cứu về cổ nhạc thuần túy của 3 miền đất nước để sáng tác thành những bài ca trào phúng để có thể trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp tự đàn lấy để trình diễn. Đó là điều ông ước vọng từ lâu.

Năm 1958, trong danh sách công tác của Tiểu Đoàn 1 Chiến Tranh Chính Trị có một ban tam ca do 3 anh tân binh mới nhập ngũ tên Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng chuyên trình bầy những bản nhạc vui nhộn. Họ lấy 3 chữ đầu của tên mình để ghép lại thành AVT để đặt tên ban. Người đứng ra thành lập ban AVT chính là nhạc sĩ Anh Linh mà không phải là nhạc sĩ Lữ Liên như không ít người lầm tưởng.

Anh Linh là một người có căn bản nhạc lý vững vàng nên từng có thời gian được cử thay thế giáo sư âm nhạc Phạm Nghệ làm trưởng ban Ca của Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương, tức Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương sau đó. Ông đã sáng tác được khoảng 20 bài, trong đó có một số bài phổ ttừ thơ của thi sĩ Hà Thượng Nhân và Nhất Tuấn (tác giả thi tập nổi tiếng trong thập niên 60 “Chuyện Chúng Minh”).

Một trong những ca khúc đắc ý nhất của ông là “Niềm Tin”, thường được nhiều ca sĩ trình bầy trong dịp Giáng Sinh. Ca khúc đầu tay của Anh Linh là bài “Sao Em Không Đi”, viết trước khi nhạc sĩ Anh Bằng, cùng trong Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương của Tiểu Đoàn 1 Chiến Tranh Tâm Lý, tung ra nhạc phẩm “Nếu Vắng Anh”. Nhưng vì nhạc của Anh Linh có phần ủy mị nên không được bộ thông tin chấp thuận ngay.

Trái lại, “Nếu Vắng Anh” thì trót lọt kiểm duyệt vì lời ca, điệu nhạc rất tình cảm nhưng không mềm yếu. Nhạc phẩm này đã trở thành Top Hit sau đó. Bù lại, Anh Linh được an ủi là có một số bài như Chiến Thắng Rừng Sát, Thiên Thần Mũ Đỏ, Chiến Thắng Kon Tum đã được rất nhiều anh em binh sĩ tán thưởng.

Việc hình thành tên ban tam ca AVT đã được nhạc sĩ Anh Linh kể lại với những chi tiết lý thú đến từ một sự tình cờ. Khởi thủy, ban tam ca sau này được gọi là AVT gồm có 3 người là Anh Linh, Tuấn Đăng và Vân Sơn thường được giới thiệu mỗi khi xuất hiện trên sân khấu là Tam Ca Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng. 3 người đều hát thường trực ở phòng trà Anh Vũ với những tiết mục vui nhộn của họ.

Một hôm, ban giám đốc thuê người kẻ một tấm biểu ngữ rất lớn để giăng ngang đường Trần Hưng Đạo, gần phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện nhằm giới thiệu bộ 3 này mà họ muốn gọi là ban Kích Động Nhạc Anh Vũ. Đúng vào lúc những người kẻ chữ vừa viết xong hai chữ A và V mầu đỏ và chữ NH mầu xanh thì Anh Linh tình cờ đi tới.

Anh hỏi thì được biết họ viết chữ ANH VŨ. Anh Linh nói ngay là ban tam ca của anh không phải tên là Anh Vũ như ban giám đốc đã thuê họ viết. Nhưng thấy mấy người thợ đã lỡ viết như vậy nên chợt nhớ ra ban kích động nhạc của mình đã có sẵn tên Anh Linh, Vân Sơn nên bảo viết thêm chữ T (chữ đầu của tên Tuấn Đăng ) và bỏ 2 chữ NH kia đi. Vì thế nên có tên AVT.

Trong thời gian AVT hát nhạc ngoại quốc ở phòng trà Anh Vũ, họ luôn được khán giả yếu cầu hát nhiều lần nên chủ phòng trà thêm cho AVT một danh hiệu nữa là ban AVT Đăng-Linh-Sơn khi được giới thiệu. Nhưng MC lại cố ý đọc là “AVT Darlingson” cho khán giả ngọai quốc dễ hiểu !


 

Tiền thù lao cho AVT sau đó đã phá kỷ lục khi họ được trả đến 1000 đồng một người, trong khi “cát sê” trả cho quái kiệt Trần Văn Trạch chỉ có 700 ! Vì AVT có lần được khán giả yêu cầu “bis” đến 7 lần. Ba người vừa vào hậu trường thay áo đi về thì lại phải mặc vào để ra trình diễn thêm trong khi khán giả giả tiếp tục hò hét vang rền ! Đó thật là một kỷ niệm nhớ đời cho Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng.

Giọng ca của 3 thành viên AVT này rất đều. Họ có thể lên cao tới “nốt” Sol cao và xuống đến Sol thấp. Theo nhận xét của nhạc sĩ Lữ Liên thì giọng của Vân Sơn trội hơn cả so với 2 người khác trong ban. Hình ảnh đặc biệt của AVT là lúc trình diễn họ đều mặc quốc phục với khăn đóng, áo dài và tự đàn lấy để hát.
Trước khi chuyển qua sử dụng những nhạc khí dân tộc thì Anh Linh chơi guitar, Vân Sơn chơi trống và Tuấn Đăng sử dụng contre-bass. Những tiết mục linh động và tươi vui của AVT thật sự đã mang lại cho sinh hoạt phòng trà thời đó thêm rất nhiều sống động.

Qua đầu thập niên 60, vào lúc AVT cần những sáng tác mới để trình bầy, nhạc sĩ Lữ Liên có ý định thử nghiệm khi muốn hướng phần trình diễn của AVT về một thể loại mới lạ. Ông đã trích một đọan trong bản Thất Nghiệp Ca của ông (sáng tác cho Đòan Văn Nghệ Việt Nam) đặt tên là Tam Nghiệp, mô tả 3 chàng Thợ Nhuộm, Thợ Sửa Khóa và Thầy Bói để AVT thực nghiệm vào dịp Tất Niên trong một chương trình văn nghệ do quân đội tổ chức tại rạp Thống Nhất. Chương trình này có mục đích ủy lạo các chiến sĩ xuất sắc khắp 4 vùng chiến thuật trở về tham dự, dưới sự chủ tọa của tổng thống Ngô Đình Diệm cùng nhiều tướng lãnh cao cấp khác.

Nhưng sắp đến ngày ra mắt thì thình lình có giấy gọi Anh Linh theo học khóa sĩ quan vào năm 1962. Lập tức Hoàng Hải được đưa vào tập dượt để thay thế. Sau này khi Lữ Liên gia nhập AVT, nhạc phẩm Tam Nghiệp có được sửa đổi đôi chút với những nghề Thợ Sửa Xe Máy (do Lữ Liên diễn tả), nghề Tẩm Quất với Vân Sơn và Tuấn Đăng với nghề thợ mộc.

Với bài Tam Nghiệp gốc, một sáng tác của Lữ Liên, trích từ tác phẩm Thất Nghiệp Ca của ông, lần đầu tiên khán giả được thưởng thức một nhạc phẩm trào phúng với những âm điệu cổ truyền cùng những lời ca dí dỏm và nghệ thuật trình diễn sống động. Tất cả những khán giả hôm đó, phần lớn là anh em binh sĩ, được dịp cười hả hê. Nhất là lúc Vân Sơn hứng lên múa trống, tung dùi và Tuấn Đăng nhảy lên cây “Contre-basse” để solo theo nhịp kích động khiến khán giả cổ võ muốn sập rạp.

  

Và kể từ đó AVT bắt đầu bước vào một khúc quanh quan trọng với phần trình bầy những nhạc phẩm trào phúng, sát với đời sống thường ngày trong xã hội. Với sự tán thưởng nồng nhiệt của khán giả. Sau thời gian này, Lữ Liên lại đặt cho AVT một số bài mới như Ông Nội Trợ, Trắng Đen, Dậy Thì, vv… Tất cả những nhạc phẩm này đã khiến tên tuổi AVT càng này càng lên cao

Ngoài những sáng tác của nhạc sĩ Lữ Liên, nhạc sĩ Anh Bằng cũng sáng tác cho ban tam ca này một nhạc phẩm nổi tiếng khác có tựa đề là Huynh Đệ Chi Binh, thêm vào đó là một sáng tác của Duy Nhượng là bài Ai Lên Xe Bus…

Từ đó, ban AVT đã trở thành một tam ca nhạc đắt giá tại các phòng trà ca nhạc và vũ trường cũng như các Đại Nhạc Hôi cùng các đài Phát thanh và Truyền Hình. Nói cho đúng, AVT đã trở thành một hiện tượng trong sinh họat ca nhạc tại Việt Nam với một khuynh hướng thể hiện chưa từng có trước đó. Như vậy có thể khẳng định là AVT đã giữ vai trò độc tôn bằng hình thức tam ca trào phúng. Một thời gian sau, một vài kết hợp dưới hình thức tương tự cũng được ra đời, nhưng không có khả năng thu hút người nghe như AVT, nên đã không tồn tại được bao lâu.

Sau những bài hát trào phúng được nhắc tới ở trên là đến một lọat những bài khác được nhạc sĩ Lữ Liên sáng tác cho ban AVT trình bầy như Ba Bà Mẹ Chồng, Cờ Người, Em Tập Vespa, vv… Đó là những nhạc phẩm đã lót đường cho ban AVT thăng tiến rất nhanh. Ngoài những lời lẽ châm biếm trong những bài hát trước đó, người nghe còn cảm thấy rất thích tú với những bài hát được Lữ Liên sáng tác với hình thức lời thanh mà ý tục, tương tự những thi phẩm nữ sĩ Hồ Xuân Hương, trong đó có tác phẩm Cờ Người đã được phổ nhạc hoàn toàn mang chất AVT độc đáo…

Trong khoảng thời gian từ 60 đến 64, AVT đã được 2 hãng đĩa Sóng Nhạc và Việt Nam mời thu đến 20 đĩa nhạc và băng nhạc. Và AVT còn nhận lời trình diễn cho các phòng trà ca nhạc và vũ trường lớn ở Sài Gòn như Queen Bee, Quốc Tế, Bồng Lai, vv…

Vào năm 1965, nhạc sĩ Hoàng Hải được lệnh giải ngũ. Hoàng Hải với tên thật là Lưu Duyên, là anh của cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, sau đó sang làm cho đài VOA tức Tiếng Nói Tự Do. Nhạc sĩ Lữ Liên được mời vào thay thế và trở thành trưởng ban AVT từ đó. Cùng một lúc ông còn là trưởng ban kịch của Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương. Với các nghệ sĩ : Hoàng Năm, Đỗ Lệnh Trường, Xuân Phúc, Bích Huyền, Cẩm Thúy, Thúy Liệu, Lệ Sửu, v.v…
    
Sau khi nhận lời trở thành một thành viên của AVT, lúc đó măc dù trong ban không còn ai mang tên có chữ có A ở đầu, nhưng Lữ Liên vẫn giữ nguyên cái tên AVT. Vì ông cho rằng tên đó đã đi sâu vào tâm hồn quần chúng. Nhưng ông đã đưa ra một vài đề nghị với một số thay đổi. Thứ nhất, với vai trò trưởng ban ông đổi danh xưng chính thức cho AVT là “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT”, thay vì Ban Kích Động Nhạc AVT.

Ngoài ra, còn có thêm một sự thay đổi quan trọng khác là loại bỏ 3 nhạc khí Tây Phương để chỉ sử dụng những nhạc khí cổ truyền Việt Nam. Từ đó Vân Sơn chơi Tỳ Bà, Tuấn Đăng chơi đàn đoản và Lữ Liên sử dụng đàn nhị tức đàn cò.

Tới khoảng thời gian 1966-67, chính phủ Việt Nam theo đuổi chương trình trao đổi văn hóa với các nước Á Châu, AVT với thành phần trên đã theo Đoàn Văn Nghệ Việt Nam của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ di trình diễn tại rất nhiều quốc gia như Lào, Cao Miên, Phi Luật Tân, Thái Lan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Nhật Bản, vv…
Sang đến năm 1968 thì “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT” đi vào một thời kỳ có thể gọi là cực thịnh với những chuyến lưu diễn tại rất nhiều quốc gia Âu Châu.

Theo lời yêu cầu của các đồng bào Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam đã gửi một phái đoàn văn nghệ hùng hậu gồm đầy đủ các bộ môn thi, ca, vũ, nhạc, kịch, vv… dưới sự dìu dắt của nhạc sĩ Hoàng thi Thơ cùng các vũ sư Lưu Hồng và Trịnh Toàn sang Âu Châu trình diễn lần thứ nhất.

Lần ra mắt ở rạp Maubert Mutualité Paris, Lữ Liên đã sáng tác một số bài dành riêng cho AVT như Chúc Xuân, Vòng Quanh Chợ Tết, Tiên Sài Gòn, Gái Trai Thời Đại, Lịch Sử Mái Tóc Huyền, Mảnh Bằng, 3 Ông Bố Vợ, vv… để trình diễn trước một số khán giả kỷ lục. Còn một số đông khán giả phải đứng ở ngoài vì hết chỗ.

Trong lần ra mắt đáng ghi nhớ đó, AVT mặc sức vẫy vùng. Mỗi câu hát là một chuỗi cười và tiếng vỗ tay vang dội. Giữa mỗi bài hát đều có phần solo nhạc. Tiếng nhạc khí Việt Nam thánh thót, véo von như chim hót khiến khán giả im lặng cơ hồ như nín thở để thưởng thức. Đến phần kết thúc mỗi bài hát thì tiếng vỗ tay vang lên như sấm động. Nhất là trong tiết mục AVT trình tấu cũng bằng Tỳ Bà, Nhị Huyền và Đàn Đỏan hai nhạc khúc bất tử của Johan Strauss là Le Beau Danube Bleu và Les Flots Du Danube. Khán gỉa đã vỗ tay không ngừng khi chấm dứt. AVT phải dắt tay nhau ra cám ơn khán giả 3 lần ! Vãn hát, khán giả đã tràn lên sân khấu vây quanh các nhạc sĩ để khen ngợi. Nhất là các khán giả người địa phương muốn xem tận mắt từng cây đàn của AVT đã sử dụng.


  

Lần trình diễn đó của AVT đã gây chấn động cả Paris. Đi đến đâu người ta cũng nhắc tới AVT. Đó có thể coi như thời kỳ huy hoàng nhất của ban ta ca trào phúng này. Sau đêm trình diễn ở rạp Maubert và sau khi nghỉ một ngày, bộ ba Lữ Liên, Vân Sơn và Tuấn Đăng sang diễn một xuất ở Thụy Sĩ và một xuất ở Luân Đôn. Sau đó họ lại về Pháp để trình diễn một xuất ở dưới miền nam.

Rồi sau đó, phái đoàn lại tiếp tục đi trình diễn tại Maroc, Algérie, Tunisie, vv… Nơi nào họ cũng gặt hái được những thành công rực rỡ trước khi trở về Việt Nam. Đó là chưa kể AVT còn có dịp sang trình diễn tận nước Cộng Hòa Trung Phi trong thời kỳ lãnh đạo của tổng thống Bokassa.

Qua năm 1969, lại một lần nữa thể theo lời mời của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam lại cử một đoàn văn nghệ gồm AVT với Lữ Liên, Vân Sơn, Tuấn Đăng cùng 2 nữ ca sĩ Hoàng Oanh và Hà Thanh, vợ chồng nhạc sĩ cổ nhạc Vĩnh Phan, nhạc sĩ Huỳnh Anh và cây sáo Nguyễn Đình Nghĩa sang quốc gia này. Một chương trình dài 2 tiếng gồm đủ mọi tiết mục được dàn dựng để trình diễn ở tất cả những địa điểm mà anh chị em sinh viên ở Parius tổ chức trong những ngày cuối năm. Chuyến lưu diễn này kéo dài 1 tháng với một thành công rực rỡ.

Ngoài những lần trình diễn chung với 2 nhạc sĩ khác trong AVT, hình ảnh nhạc sĩ Lữ Liên còn ghi đậm nét trong trí nhớ mọi người khi ông cùng nhạc sĩ Hoàng Thi Thao đồng diễn tiết mục “Cò Tây-Cò Ta”, được coi là một tiết mục rất ăn khách vào thời đó, cũng như sau này tại hải ngọai. “Cò Tây-Cò Ta” cũng đã được thu hình trong một chương trình Paris By Night cách đây vài năm, gây được nbhiều thích thú cho khán thính giả.

Rồi đến tháng 4 năm 75, Lữ Liên nhờ làm cho đài Mẹ Việt Nam nên được đi tàu ra Phú Quốc để rồi được đưa sang đảo Guam trước khi đến Mỹ. Trong khi đó Vân Sơn và Tuấn Đăng bị kẹt lại. Riêng Vân Sơn, một thời gian ngắn sau biến cố tháng 4 năm 75, đã nhảy xuống sông Thị Nghe tự tử. Qua một bài viết của Băng Đình thì Vân Sơn đã nhảy cầu Thị Nghè tự tử để phản đối sự áp bức của chính quyền mới đối với giới văn nghệ sĩ.

Trong khi về phía chính quyền thì cho là Vân Sơn làm rối loạn trật tự tại chợ Thị Nghè, bị công an khu vực rượt nên sợ quá phải nhảy vội xuống sông Thị Nghè. Vân Sơn, chết vì đầu đập vào một cây gỗ. Có người hỏi nữ nghệ sĩ Hồng Vân là người đứng ra quyên tiền để chôn cất cho Vân Sơn, về nguyên nhân cái chết của anh. Nhưng Hồng Vân cũng trả lời không biết rõ nguyên nhân.

Về phần nhạc sĩ Lữ Liên, theo một nguồn tin khác cho biết lý do khiến Vân sơn tìm đến cái chết đã đến từ chuyện gia đình…

Một thành viên từ những ngày đầu của ban AVT là Tuấn Đăng hiện nay vẫn hoạt động ở Sài Gòn. Hàng đêm anh hát và đàn tại một quán có tên là Tiếng Dương Cầm trong khu cư xá sĩ quan Chí Hòa.
 
Còn Anh Linh, người sáng lập ra AVT, từ khi qua Mỹ theo diện HO đến nay, là ca đoàn trưởng của một giáo xứ ở San Jose. Vợ chồng anh còn là chủ của một tiệm phở đông khách ở thành phố này.

Sau một thời gian vất vả ở các trại tỵ nạn, các anh chị em nghệ sĩ ở khắp nơi đổ dồn về tiểu bang California lập nghiệp. Nhờ sự yểm trợ của cơ quan USCC, một số anh nghệ sĩ có tên tuổi như Hoàng Thi Thơ, Nam Lộc, Jo Marcel, Lê Quỳnh, Kiều Chinh, Lữ Liên, Vũ Huyến, Ngọc Bích vv… đã được nhận vào làm việc tại cơ quan này.

Một thời gian ngắn sau khi sang đến Mỹ, ban Tam Ca Trào Phúng AVT Hải Ngọai đã được thành lập do ý kiến của nhạc sĩ Lữ Liên. Và sau một thời gian tập luyện một ban văn nghệ hùng hậu đã được thành lập để cùng kéo nhau sang Paris trình diễn, trong số dĩ nhiên không thể nào thiếu AVT Hải Ngoại với Ngọc Bích, Vũ Huyến và Lữ Liên.

Toàn thể khán giả đã tỏ ra rất thích thú khi được nghe lại những nhạc phẩm trào phúng quen thuộc ngày nào. Yếu tố đó đã khiến cho AVT gặt hái được những thành quả to lớn. Nhưng sau đó, với thời gian, thành phần AVT Hải Ngọai có một vài thay đổi và một số hoạt động cũng như một số sáng tác mới được ghi nhận như sau:

14/2/77 : Một lần nữa AVT có sự thay đổi trong thành phần khi Trường Duy vào thay thế cho Ngọc Bích. Cùng với đoàn văn nghệ trên, bộ ba sang Âu Châu trình diễn trong vòng 19 ngày.

01/12/77 : Sẵn có đoàn nghệ sĩ cơ hữu này, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã mang cả đoàn sang cộng hòa Trung Phi trình diễn nhân ngày Hoàng Đế Bokassa Đệ Nhất đăng quang.

Năm 1987 : Nhạc sĩ Anh Bằng đã thực hiện 1 cuốn băng AVT Hải Ngoại đầu tiên do trung tâm Asia phát hành. Trong băng này có một nhạc phẩm mới mang tựa đề Gốc Mít do Lữ Liên và Anh Bằng sáng tác, nói về cuộc đời của những người dân Việt tỵ nạn, lang thang trên khắp thế giới để tìm miếng cơm manh áo. Gặp nhau cũng không biết là người đồng hương,với những cảnh ngộ trớ trêu, cười ra nước mắt.

AVT với tiếng hát Lữ Liên, Vũ Huyến và Trường Duy và bài mới thứ 2 của nhạc sĩ Anh Bằng mang tựa đề Canh Cua Rốc, mô tả những chàng tai tỵ nạn xa quê hương thèm món canh cua từng đêm như thèm khát những vóc dáng xinh xinh.

 

Năm 1988 : thành phần AVT được tăng cường thêm nữ nghệ sĩ Thúy Liệu đã sang Úc trình diễn tại Sydney trong một chương trình kịch vui kéo dài trong 10 ngày.

Năm 1992 : AVT có một sự thay đổi với Hoàng Long vào thay thế cho nhạc sĩ Vũ Huyến, đã cùng nhau thực hiện một băng cassette, thu thanh tại phòng thu Tùng Giang và do trung tâm Khánh Hà phát hành. Trong băng này có một sáng tác mới của Lữ Liên là Trận Cầu Quốc Tế, mô tả cuộc trực tiếp truyền thanh của AVT trong 1 trận cầu giao hữu nhưng không kém phần quyết liệt của 2 đội banh, một nam, một nữ từ Âu Mỹ đến Việt Nam. Khán giả Sài Gòn được xem nhiều pha gay cấn đầy nghệ thuật tân kỳ. Tuy chỉ là giả tưởng, nhưng với những “sound effects”, người nghe có cảm tưởng như đang tham dự một trận cầu thật.

Năm 1994, vào dịp Xuân Giáp Tuất trung tâm Giáng Ngọc tung ra cuốn video đầu tiên của AVT tại hải ngọai. Dựa theo một áng thơ tuyệt tác của nữ sĩ Hồ Xuân hương, nhạc sĩ Lữ Liên lần đầu tiên trình diễn chung với 2 nữ nghệ sĩ Thúy Lan và Thúy Hương để trình bầy nhạc phẩm Đánh Đu, với phần nhạc do Lữ Liên tự đảm trách, nhạc sĩ Ngọc Bích hòa âm và sử dụng Keyboard.

Ở trên là những chi tiết người viết thu thập được phần lớn từ người được coi như linh hồn của ban Tam Ca Trào Phúng AVT là Lữ Liên trong thời kỳ ông còn minh mẫn. Trong lần đến thăm ông gần đây, sức khỏe của ông có phần sa sút hơn xưa. Nhất là sau khi bị té nặng vào năm ngoái, 2007.

Sau lần đó, trí nhớ của nhạc sĩ Lữ Liên tỏ ra kém hẳn trước với một giọng nói không còn được linh họat, nếu không muốn nói là thiếu sự liên tục. Thật ra tình trạng này đối với số tuổi 91 của ông cũng là bình thường. Mặc dù vậy, nhạc sĩ Lữ Liên vẫn còn cung cấp được cho tôi một số chi tiết liên quan đến tiểu sử của ông…

Ông mang họ Lã, sinh trưởng ở Hải Phòng trong một gia đình mà thân phụ ông cũng là một nghệ sĩ, ngoài việc làm chính ở sở Bưu Điện. Khi Lữ Liên còn nhỏ, thân phụ ông đã đứng ra lập một gánh hát cổ nên ông đã có dịp gần gũi với những âm thanh nhạc cổ truyền. Ông trưởng thành trong khung cảnh văn nghệ đó nên đã chịu nhiều ảnh hưởng để sau đó trở thành một nghệ sĩ tài ba mà sự đóng góp của ông được coi như rất lớn lao cho nền âm nhạc Việt Nam… (theo TiVi Tuần San 1144 & 1145) 

NHẠC SĨ LỮ LIÊN

Trưa 8/7, một trong những cổ thụ âm nhạc Việt Nam – nhạc sĩ Lữ Liên đã trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Garden Grove, Mỹ. Ông hưởng thọ 96 tuổi.

Nhạc sĩ Lữ Liên sinh năm 1917 ở Hải Phòng. Trong khai sinh ông ghi họ Lã, nhưng nghệ danh là Lữ Liên. Cha ông dù là nhân viên bưu điện nhưng lại đam mê nghệ thuật. Ca sĩ Tuấn Ngọc từng kể : “Ông nội tôi mê cổ nhạc, chính vì đứng ra lập ban cổ nhạc mà cha tôi mới có cơ hội học hỏi, làm quen với các nhạc sĩ cổ nhạc”.

Nhạc sĩ Lữ Liên trước đây từng tham gia ban hợp ca Thăng Long, cùng với Thái Thanh, Hoài Bắc và Hoài Trung biểu diễn rất thành công những ca khúc mang âm hưởng dân ca ba miền và những ca khúc trữ tình. Ông lập gia đình và có những đứa con mà khi trưởng thành họ đều gắn bó với âm nhạc, được công chúng trong và ngoài nước yêu mến : Tuấn Ngọc, Bích Chiêu, Anh Tú, Khánh Hà, Thúy Anh, Lan Anh và Lưu Bích.


Tên tuổi nhạc sĩ Lữ Liên được biết đến với sự hình thành và phát triển của nhóm nhạc AVT – tên của một ban tam ca trào phúng đã đi vào lịch sử âm nhạc Việt Nam với tính chất mượn giai điệu ngũ cung, những ca khúc, bài lý, dân ca, bài chồi để viết lời mới châm biếm, mỉa mai những cảnh tượng gai mắt, chướng tai trong cuộc sống.

AVT nổi tiếng và được khán thính giả trên mọi miền đất nước yêu mến. Những lời ca dí dỏm trong nhạc phẩm do AVT trình bày mang lại niềm vui cho khán thính giả suốt nhiều thập niên. Chúng đã đóng góp khá nhiều những giá trị tinh thần trong kho tàng văn hóa dân gian dù ca khúc được AVT thể hiện sử dụng nhiều từ loại văn chương truyền khẩu rất phổ thông ở miền Bắc thời đó.

Ban đầu, tam ca AVT gồm: Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng chuyên thể hiện những ca khúc vui nhộn. Họ lấy 3 chữ đầu của tên mình để ghép lại thành AVT để đặt tên. Người đứng ra thành lập ban AVT chính là nhạc sĩ Anh Linh. Nhạc sĩ Lữ Liên giai đoạn này là người sáng tác các ca khúc cho nhóm AVT. Ông đã trích một đoạn trong bản Thất nghiệp ca, đặt tên là Tam nghiệp, mô tả 3 anh thợ nhuộm, thợ sửa khóa và thầy bói để AVT biểu diễn.

      

Lập tức tính hài hước pha với diễn xuất, lại có ưu thế vừa đàn, vừa ca, vừa châm biếm duyên dáng, AVT nổi bật từ ngày có bàn tay “phù phép” của nhạc sĩ Lữ Liên. Giai đoạn này ông đã cho ra đời những ca khúc : Chúc xuân, Vòng quanh chợ tết, Tiên Sài Gòn, Gái trai thời đại, Lịch sử mái tóc huyền, Mảnh bằng, Ba ông bố vợ…

Soạn giả Viễn Châu kể : “Lệnh bắt quân dịch đã khiến nhóm AVT mất đi Anh Linh. Năm 1962 nhạc sĩ Lữ Liên chính thức gia nhập nhóm, sau một thời gian Hoàng Hải thay thế nhưng không trụ vững. Để thay đổi khẩu vị, nhạc phẩm Tam nghiệp của anh Lữ Liên được sửa đổi đôi chút với những nghề thợ sửa xe máy (do Lữ Liên ca), nghề giác hơi tẩm quất (do Vân Sơn ca) và nghề thợ mộc (do Tuấn Đăng ca). Nếu bài vọng cổ hài của tôi ứng biến với âm nhạc ngũ cung, thì âm điệu cổ truyền Bắc bộ với ca trù, hát khách, ả đào, chầu văn… đã được nhạc sĩ Lữ Liên đưa vào rất dí dỏm và mang tính trào phúng sống động”

Cũng theo nhạc sĩ Lữ Liên đã khái quát được hoàn cảnh xã hội thời đó. Những nhạc phẩm trào phúng, sát với đời sống thường ngày trong xã hội của AVT lên án mạnh mẽ những thói trăng hoa, dỏm đời, học đua đòi… Cách châm biếm đó nhận được sự tán thưởng nồng nhiệt của khán giả. Sau thời gian này, Lữ Liên lại sáng tác cho AVT một số bài hát : Ông nội trợ, Trắng đen, Dậy thì, Trâu ơi ta bảo này, Ba bà mẹ chồng, Cờ người, Em tập vespa…. Tất cả những ca khúc này đã đưa tên tuổi AVT lên đỉnh cao nghệ thuật.


Từ năm 1960 - 1964, nhóm AVT đã được 2 hãng đĩa Sóng Nhạc và Việt Nam mời thu đến 20 đĩa nhạc. Nhóm đắt show diễn ở các phòng trà ca nhạc và vũ trường lớn của Sài Gòn như : Queen Bee, Quốc Tế, Bồng Lai… Sau ngày miền Nam “đứt phim”, nhạc sĩ Lữ Liên sang Mỹ định cư cùng các con.

Lúc này ca sĩ Khánh Hà đã lập trung tâm sản xuất băng nhạc, nên nhạc sĩ Lữ Liên đã tái lập lại nhóm ATV để thực hiện việc ghi âm và thi thoảng biểu diễn tại Mỹ, Úc. Trải qua nhiều biến đổi, năm 1988 nhóm có thêm sự tham gia của nữ nghệ sĩ Thúy Liệu khi sang Úc biểu diễn, đến năm 1992, AVT có thêm nhạc sĩ Hoàng Long. Năm 1994, vào dịp hát tết nhóm AVT đã ra mắt một loạt ca khúc mà nhạc sĩ Lữ Liên dựa theo áng thơ của nữ sĩ Hồ Xuân hương để sáng tác, châm biếm thói thích ong bướm, trăng hoa của những kẻ háo sắc. Lúc này ông đã trình diễn cùng hai nữ nghệ sĩ Thúy Lan và Thúy Hương, tạo dấu ấn cuối đời với nhạc phẩm Đánh đu.

Năm 2008, nhạc sĩ Lữ Liên về cư ngụ tại Orange County – miền Nam California – Mỹ. Ông sống trong một căn nhỏ và được các con thăm viếng mỗi tuần. “Sự ra đi của bố tôi là nỗi đau xót rất lớn đối với anh em trong gia đình. Cả cuộc đời bố tôi luôn dành cho việc sáng tác và xem những tình cảm của khán thính giả dành cho ông, cho chúng tôi là niềm hạnh phúc” – ca sĩ Tuấn Ngọc tâm sự trước khi anh bay về Mỹ cùng vợ là ca sĩ Thái Thảo để lo hậu sự cho cha mình. (Theo Thoại Hà – NLĐ)

Huỳnh văn Yên
.

Từ " ẢO THUẬT GIA " thành " NHẠC SĨ BẢO THU "

http://cafevannghe.wordpress.com/






Ông là nhạc sĩ của những ca khúc quen thuộc với đông đảo quần chúng từ trước năm 1975 như “Ước vọng tương phùng”, “Giọng ca dĩ vãng”, “Đừng hỏi vì sao tôi buồn”. Ngoài ra, ông còn nổi tiếng là ảo thuật gia có tài. Dưới đây là tâm sự của ông.

- Tại sao từ ảo thuật gia Nguyễn Khuyến, ông lại trở thành nhạc sĩ Bảo Thu ?
- Con người tôi khá ôm đồm. Ngoài ảo thuật, tôi còn sáng tác nhạc, biên tập, dàn dựng, đạo diễn nhiều chương trình và phim video ca nhạc. Thậm chí cả lĩnh vực múa, kịch rối tôi cũng đã học ở Hà Lan năm 1971. Riêng âm nhạc, 8 tuổi tôi đã học đàn mandoline, 15 tuổi học guitar. Thấy một thằng Sơn Đông mãi võ nghèo xác xơ nhưng chú tâm học hỏi, thầy thương, miễn học phí rồi cho cả cây đàn. Năm 20 tuổi, tôi viết bản nhạc đầu tiên Ước vọng tương phùng, năm sau ra ấn phẩm đầu tiên là Đừng hỏi vì sao tôi buồn.

- Anh có thể nói về hoàn cảnh ra đời ca khúc “Giọng ca dĩ vãng” ?
- Dạo đó, cô ấy sinh hoạt trong Ban văn nghệ thiếu nhi của nhạc sĩ Nguyễn Đức. Tôi thỉnh thoảng cũng đến tham gia sinh hoạt và phụ thầy Đức dạy nhạc cho nhóm. Rồi vì nhà ở gần nhau nên tôi thường đến nhà cô ấy dạy nhạc thêm. Tình cảm giữa hai đứa nảy sinh, nhưng chưa đi đến đâu thì cô ấy cho hay là gia đình đã đính hôn cho cô từ trước. Tôi bị sốc, bèn viết : “Ngày xưa, mỗi lần em buông tiếng hát, thì anh tay phím nắn nót cung đàn. Từng nhịp nhặt khoan anh ru hồn theo tiếng tơ, nhẹ dìu lời ca em thăng trầm theo từng lúc… Cung lỡ dây chùng, mấy ai đàn đừng sai”. Sau khi chia tay, chỉ 1-2 năm sau cô ấy trở thành ca sĩ nổi tiếng. Dẫu vậy, đến năm 1970 vẫn chưa thấy cô ấy lấy chồng.

   

- Thế còn bà xã anh hiện nay ?
- Cô ấy là ca sĩ Thanh Tâm. Thanh Tâm cũng là học trò của tôi trong những năm 1969-1970, nhưng đến năm 1973 thì trò hết hát, thầy hết dạy vì phải cùng… chuẩn bị cho đứa con đầu lòng.

- Công việc hiện nay của anh như thế nào ?
- Sản xuất, thực hiện các chương trình video cải lương. Đạo diễn các video clip ca nhạc… Bận rộn lắm. Tôi vừa đi vào vùng rốn lũ ở Tân Hồng, Đồng Tháp để làm phim ca nhạc.

Từ “tiếng hát học trò” đến Giọng ca dĩ vãng
Tôi gặp nhạc sĩ Bảo Thu vào một sáng trung tuần tháng 10/2011 ở hành lang Bích Câu trong Cung văn hóa Lao động. Lúc này, anh đang “cuốn gói” sau thời gian trưng bày gian hàng bán dụng cụ ảo thuật từ một hội chợ diễn ra ở đây.

Vậy là anh gắn bó với “nghiệp” ảo thuật đến gần 60 năm rồi. Bảo Thu kể năm 16 tuổi (1960), anh nổi tiếng trong làng ảo thuật với nghệ danh Nguyễn Khuyến (anh tên thật là Nguyễn Trung Khuyến). Chơi chung với anh là Tùng Phương – một nghệ sĩ đàn guitar, dạo mới 11 tuổi đã nổi tiếng là “thần đồng độc tấu Tây ban cầm”. Những lúc ngồi đợi đến lượt diễn, anh thường “nghịch ngợm” với đám nhạc cụ (trống, guitar…). Tiếng là nghịch nhưng thực ra anh đã chơi được mandolin và học nhạc lý căn bản từ hồi 8 tuổi, lại “học lóm” của Tùng Phương vài chiêu nên cũng không quá khó để xử lý mấy món “đồ chơi” này.

Thấy Khuyến có năng khiếu, nhạc sĩ Lâm Tuyền tỏ ý muốn dạy nhạc miễn phí cho cậu. Khuyến muốn học nhưng lại không có đàn, vậy là ông thầy bao luôn cây đàn cho học trò. Chẳng mấy chốc, Khuyến trở thành một nhạc công chuyên nghiệp, có thể “trám” vào bất cứ vị trí nào trong ban nhạc (guitar, trống, bass…). Hành trình âm nhạc của chàng trai sau này trở thành nhạc sĩ Bảo Thu bắt đầu từ đó.

Dạo ấy (khoảng 1965), ở Sài Gòn có nhiều nhạc sĩ mở lò đào tạo ca sĩ (nếu gọi là “trung tâm” thì lớn quá, gọi là “lớp” cũng không đúng, cho nên gọi “lò” là chính xác nhất). Với ban Việt Nhi, cả khi thu âm ở đài phát thanh hay tập dượt ở nhà riêng của nhạc sĩ Nguyễn Đức, hễ thiếu nhạc công là nhạc sĩ gọi Nguyễn Khuyến đến. Ban Việt Nhi gồm toàn những cô gái tuổi dậy thì (khoảng 14, 15 tuổi), hát rất hay và mắt liếc sắc như dao.

Có một cặp mắt trong ban Việt Nhi làm Nguyễn Khuyến xuyến xao. Nàng tên T., nhỏ hơn Khuyến 5 tuổi, dáng người thanh mảnh với đôi mắt to, long lanh. Mái tóc của T. luôn uốn cong cong như một vầng trăng khuyết, che lấp một phần má (sau này Khuyến mới biết, kiểu tóc đặc biệt này là để che một vết sẹo mà tạo hóa đã chơi “khăm” để lại trên má nàng)… Khi đã thân thiết, Khuyến mới biết nhà T. ở đường Tôn Đản (Q.4), gần nhà mình. Vậy là ngoài những buổi tập hát ở nhà thầy Nguyễn Đức, đôi bạn còn có dịp cận kề ở nhà của T. để “… Mỗi lần em buông tiếng hát, thì anh tay phím nắn nót cung đàn. Từng nhịp nhặt khoan anh khẽ dìu theo tiếng em. Nhẹ dìu lời ca em thăng trầm theo từng lúc. Và rồi hờn yêu trong mỗi lần em hát sai. Em nũng nịu cười, nói : “Sai là tại anh !” (Giọng ca dĩ vãng).

Bảo Thu tâm sự : “Tôi trở thành nhạc sĩ chính là do T. tạo niềm cảm hứng. Tôi nhớ mãi một hôm nàng chợt bảo tôi : “Có khi nào anh hình dung rằng có một người con gái ngồi bên song cửa mơ màng và chợt nhớ đến anh”. 

   

Câu nói ấy cứ ám ảnh tôi mãi, và từ ý này tôi ôm đàn viết nhạc, đó là ca khúc đầu tay “Ước vọng tương phùng” ký bằng tên thật. Tưởng viết nhạc chơi cho vui, ai dè Ước vọng tương phùng được giải thưởng của đài phát thanh. Có hứng, tôi viết tiếp vài ca khúc nữa nhưng thú thực là không thành công. Lại một hôm, T. hỏi tôi : “Anh đã nghĩ đến chuyện lập gia đình chưa ?”. Tôi trả lời mình còn nhỏ tuổi, lại chưa có công danh sự nghiệp gì nên cũng chưa nghĩ đến chuyện vợ con (lúc đó tôi mới 21 tuổi, còn T. 16). Chợt T. nói nhỏ cho tôi biết là gia đình em đã hứa hôn cho em với một người. Tôi biết nàng ngầm gợi một điều gì đó ở tôi nhưng tôi chẳng biết phải làm sao hơn ngoài sự hụt hẫng, buồn đến nao lòng… Thế là tôi viết : “Ngày nào mình chưa quen biết, ngỡ ngàng khi đứng bên nhau. Ngày nay đã mến nhau rồi, vẫn còn nhìn nhau không nói… Lần đầu gặp anh em hứa, chúng mình sẽ mãi bên nhau. Giờ đây đôi ngả chia lìa. Chớ hỏi vì sao tôi buồn…” (Đừng hỏi vì sao tôi buồn). Lần này tôi ký tên Bảo Thu. Nghệ danh này là do tôi “mượn” từ tên những cô bạn gái : Bích Bảo, Thanh Thu (Đà Lạt) và Xuân Thu (Sài Gòn)…”.

Rồi cũng đến lúc T. tách khỏi ban Việt Nhi để hát đơn ca. Nàng hay mặc áo dài trắng hát trên sân khấu nên được khán giả và giới báo chí thời đó mệnh danh là “Tiếng hát học trò”. Từ danh xưng này, Bảo Thu lại viết ca khúc Tôi yêu tiếng hát học trò để bày tỏ nỗi lòng. T. thừa biết tình cảm của Thu dành cho nàng. Tuy nhiên, với cốt cách gia giáo, T. vẫn giữ một khoảng cách chừng mực khi tiếp xúc với Thu.

Khoảng 3 năm sau, bạn bè trong giới văn nghệ kháo nhau “T. sắp lấy chồng”. Để tránh cho nàng khó xử, Thu không đến tập hát cho nàng nữa. Trong những cơn buồn thấm thía, ông viết Giọng ca dĩ vãng : “Nhưng em nuôi mộng ước về tương lai, hoa mai giăng ngập nẻo đường em đi. Rồi em đành chối tiếng giao hòa, từ ly là tiếng thét đau lòng, sầu đưa lối… Lời ca ngày ấy đã xa rồi, mà ai còn chuốt mãi cung đàn, vọng về tim…”. Bài hát do Bảo Thu tự xuất bản (1967), bìa do một họa sĩ vẽ với người mẫu là ca sĩ Kim Loan. Lúc này hãng đĩa Sơn Ca của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông mới thành lập và lần đầu tiên ca sĩ Giao Linh được mời thu đĩa, Giao Linh đã chọn bài Giọng ca dĩ vãng. Trước Giao Linh cũng có nhiều ca sĩ hát Giọng ca dĩ vãng, trong đó có cả T. nhưng phải nói chính Giao Linh đã đẩy Giọng ca dĩ vãng lên đỉnh. Số lượng in ra lên đến 500.000 bản, mỗi bản bán 20 đồng. Tính ra trên 1.000 lượng vàng thu được từ tiền bán ấn phẩm ca khúc này. Sau đó, Bảo Thu viết tiếp ca khúc Vọng về tim nhưng không thành công cho lắm.

Nhạc sĩ Bảo Thu nhớ lại : “Sau năm 1975, tôi chưa một lần gặp lại T., nghe nói gia đình T. đã định cư ở Mỹ. Vừa rồi tháng 7/2011, Trung tâm Thúy Nga Paris có đến phỏng vấn tôi tại nhà, hỏi về trường hợp tôi viết ca khúc Giọng ca dĩ vãng. Tôi bảo chuyện này rất tế nhị, bởi tôi nói ra biết đâu lại gây tổn thương cho T. cũng như phương hại đến hạnh phúc gia đình T. Họ cho tôi biết chồng của T. đã qua đời. Tôi lại thấy hụt hẫng… Không hiểu sao, mỗi khi hát Giọng ca dĩ vãng, đến câu cuối “Cung lỡ dây chùng, mấy ai đàn đừng sai”, tôi lại thấy có một cái gì đó xót xa cho những cặp tình nhân đã từng một thời quấn quýt nay phải rời xa”. (theo Hà Đình Nguyên)

  

ẢO THUẬT VIỆT VỀ ĐÂU ?

Muốn gắn bó với ảo thuật, người làm nghề phải tự thân vận động khi Việt Nam chưa có trường lớp đào tạo chính quy, không có nơi biểu diễn ổn định. Hệ quả là sự nghèo nàn trong biểu diễn, tiết mục chắp vá, sao chép của nhau khiến bộ mặt ảo thuật Việt chưa rõ hình dạng.

Thiếu “sân chơi” đúng nghĩa
Họ đã sống tạm bợ nhờ diễn trong các chương trình “đại nhạc hội”, nhà hàng, quán bar, thậm chí các quán nhậu vỉa hè

Đến xem chương trình Gala ảo thuật 2012 được tổ chức tại Rạp Xiếc ở Công viên 23/9 ở Sài Gòn, nhiều khán giả đã xúc động trước lòng yêu nghề của các ảo thuật gia. Qua 4 suất diễn dưới sự hỗ trợ hết mình của Đoàn Xiếc, cuộc hội ngộ của các nghệ sĩ ảo thuật nổi tiếng là hội viên Hội Ảo thuật gia quốc tế – IBM (Intenational Brotherhood Magicians) đang hoạt động tại Sài Gòn và các tỉnh, thành trong cả nước đã được công chúng đón nhận. Dù lượng vé bán không nhiều nhưng đây là dịp hiếm hoi để các ảo thuật gia gắn bó với nghề quy tụ trên một sàn diễn.

Lên tiếng sau 14 năm
Với họ, dù gala này chưa phải là sân chơi đúng nghĩa để giới thiệu sự phát triển không ngừng của ảo thuật Việt nhưng “có còn hơn không, khi ảo thuật Việt im hơi, lặng tiếng suốt 14 năm qua” – nhà ảo thuật David Hùng bùi ngùi.

Còn với nhà ảo thuật Nguyễn Khuyến (nhạc sĩ Bảo Thu, thành viên Hội đồng Giám khảo Liên hoan Ảo thuật toàn quốc lần 1 năm 2008), người cố vấn chương trình Gala ảo thuật 2012, cho biết : “Nhiều năm rồi, gần 60 nhà ảo thuật Việt có tên tuổi tại Việt Nam và được IBM công nhận mới có dịp tái ngộ khán giả Sài Gòn. Họ đã sống tạm bợ nhờ diễn trong các chương trình “đại nhạc hội”, nhà hàng, quán bar thậm chí diễn ở quán nhậu vỉa hè, khi ảo thuật còn bị xem là tiết mục phụ, chỉ để lấp khoảng trống cho các ca sĩ ngôi sao trong các chương trình văn nghệ. Những ai yêu nghề ảo thuật đều không khỏi chạnh lòng vì họ chưa có sân chơi đúng nghĩa để cống hiến hết tài năng của mình”.

Vào bên trong hậu trường Gala ảo thuật 2012 mới chứng kiến những hình ảnh xúc động của các ảo thuật gia. Ông bầu Duy Ngọc – người từng tổ chức nhiều chương trình ảo thuật xuyên Việt – nhạc sĩ Bảo Thu, nghệ sĩ Tòng Sơn đã nhiều năm rồi mới gặp lại các học trò, đàn em mà tuổi đời cũng đã ngoài 50. Và  từ sau Liên hoan Ảo thuật toàn quốc lần 1-2008 tổ chức tại Hà Nội, đến nay họ mới có điều kiện gặp gỡ, thăm hỏi và trao đổi kinh nghiệm. Trong niềm vui mừng, có cả những giọt nước mắt ngậm ngùi, luyến tiếc. Bởi đã qua rồi cái thời ảo thuật được xem là tiết mục “đinh” của các đêm diễn.

Với họ, 8 suất diễn tại Sài Gòn (từ ngày 11 đến 20/5/2008 sẽ là bước đệm nhằm chuẩn bị tiến tới Liên hoan Ảo thuật toàn quốc lần 2 – 2012 do Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch tổ chức vào tháng 12/2012 tại thủ đô Hà Nội. “Tuy nhiên, điều chúng tôi cần chính là một sân chơi đúng nghĩa để anh em nghệ sĩ ảo thuật có nơi sinh hoạt, làm nghề, thi thố tài năng trước khi nói đến tranh tài tại liên hoan cấp quốc gia” – nhà ảo thuật Taylor (Nhà hát Ca múa nhạc Biển Xanh – Bình Thuận) nói.
 
Vẫn làm những trò vặt
Tham gia gala lần này, sự có mặt của các ảo thuật gia: Kao Long, Hoàng Lang, David Hùng, Taylor, Thu Huyền, Ngọc Ánh… đã có những tiết mục biểu diễn cuốn hút người xem. Họ đều đã trải qua ít nhất 10 năm trong nghề, nên 2/3 tiết mục họ giới thiệu trong gala này là những tiết mục tự sáng chế, có tính độc đáo và tạo ấn tượng, như: người chui vào thùng đâm kiếm; nhiều thiếu nữ xuất hiện trong một chiếc tủ nhỏ; vải biến thành ô đủ màu sắc…

Thế nhưng, qua đôi mắt nhà nghề của ảo thuật gia Nguyễn Khuyến : “Tất cả đều là những trò cũ, được cấu trúc lại, thêm vài tiểu tiết để trình diễn. Vì lâu nay không có sân chơi chuyên nghiệp, anh em đều phải kiếm sống khắp nơi nên không thể đòi hỏi họ sáng tạo những tiết mục lớn do tiền đầu tư quá cao, lại không thể vận chuyển cơ động”.

Ảo thuật Việt từ thập niên 70 thế kỷ trước đã có những tên tuổi lừng lẫy, tạo được dấu ấn đối với khán giả trong và ngoài nước : Nguyễn Thành Long, Nguyễn Khuyến, Tony Quang, Nguyễn Đức Trường (tức Z27), Nguyễn Kim, Thanh Trúc, Ngọc Phước, Hoàng Biếu, Anh em Lê Hảo Tâm – Mạc Can (anh trai nghệ sĩ hài Mạc Can)… Nhưng đến nay, khi thế hệ vàng của ảo thuật sắp lui vào dĩ vãng, vẫn chưa có thế hệ tiếp nối và viễn cảnh của bộ môn nghệ thuật giải trí này xem ra còn quá mịt mờ.


   
 
 Vài hàng tiểu sử
Nhạc sĩ Bảo Thu tên thật là Nguyễn Trung Khuyến, SN 1944 tại Sài Gòn (gốc Cần Thơ). Ông còn có những tác phẩm nổi tiếng khác như : Cho tôi được một lần, Đừng hỏi vì sao tôi buồn, Nếu xuân này vắng anh, Hoa sầu đông, Vọng cố nhân, Một lời cho em…

Ngoài sáng tác nhạc, ông còn là nhà ảo thuật nổi tiếng : Giáo sư đại biểu ảo thuật (1964), giám khảo Liên hoan Ảo thuật phía Nam  tại Sài Gòn(1977), giám khảo Liên hoan Ảo thuật toàn quốc – Hà Nội (2008), hội viên Hội Nghệ sĩ Ảo thuật Pháp, hội viên Liên đoàn Nghệ sĩ Ảo thuật quốc tế… Nhạc sĩ Bảo Thu hiện là Giám đốc Công ty văn hóa – văn nghệ ca và hát (Tôn Thất Thuyết, P15, Q4).

 .